English
Vietnamese
Điều thứ nhất:
Lâu nay chúng ta vẫn quen thuộc và chấp nhận như một sự mặc định , nó là như vậy, đó là bức tranh luôn phải có phần nền (background). Gần như background là chiều sâu của bức tranh. Thật sự đó là chiều sâu giả tạo trên mặt phẳng tranh, chiều thứ 3 trong không gian. Không có bức tranh nào là không có background , bởi vì background là chiều sâu. Chính vì vậy bức tranh phải được dàn trải theo chiều ngang, còn chiều dọc là chiều sâu được giả tạo. Thí dụ, một thiếu nữ đơn sơ đứng trên bức tranh, thì phía sau hoặc chung quanh thiếu nữ phải là background. Đó chính là phần nền gỉả tạo, giả không gian, giả chiều sâu cho bức tranh. Nếu thiếu nữ đứng bên nhiều lọ hoa thì sự phân bố theo chiều ngang sẽ xác định được chiều dọc, chiều sâu của tác phẩm. Ai sẽ là người đứng trước, thì sẽ lớn và đậm hơn, ai ở sau thì sẽ mờ và nhỏ hơn. Chính điều này sẽ tạo ra một không gian giả cho chiều dọc và chiều sâu. Chiều thứ 3.
Điều thứ hai:
Như vậy, chúng ta đang gỉả một không gian thực trên một mặt phẳng. Điều này cho phép người họa sỹ tha hồ thao túng, sáng tạo ra rất nhiều loại không gian, rất nhiều loại cảm xúc, và rồi áp đặt cho người xem cảm thụ. Ngừoi xem đã bị cuốn hút vào vẻ đẹp của phong cách, của không gian đó, và bị áp đặt bởi cảm xúc của người họa sỹ khi tạo ra không gian đó, chứ không phải cảm xúc thực của người xem cảm nhận về đối tượng đó. Cảm xúc của người xem khi đứng trước biển khác với cảm xúc của họ khi ngắm nhìn bức tranh vẽ về biển. Cảm xúc đứng trước biển là cảm xúc thực, có thể đứng trước biển nhưng họ đang suy nghĩ về chuyện khác, về gia dình, họ hàng, con cái, …..không nghĩ về biển, nhưng đó vẫn là cảm xúc thực của chính họ. Còn cảm xúc đứng trước bức tranh vẽ về biển đôi khi chính là cảm xúc bị áp đặc bởi họa sỹ thông qua bức tranh.
Điều thứ ba:
Chính vì giả không gian thực trên mặt phẳng, cho nên không gian bức tranh sẽ bắt đầu từ mặt phẳng tranh trở về sau., phía trước bức tranh hòan toàn không có giá trị gì. ghĩa là ngoài phạm vi của cái khung không phải là tranh và hầu như không liên quan gì đến bức tranh, bức tranh được thiết lập từ khung tranh trở vào trong và hòan toàn không có chiều đi ra. Chính vì vậy bức tranh hòan toàn độc lập với môi trường chung quanh, dù nó được treo ở bất cứ nơi nào. Nó không có tính liên kết với môi trường hay đồ vật chung quanh. Chính cái khung làm cho bức tranh tách ra khỏi môi trường , tồn tại dộc lập để bảo vệ cái cảm xúc áp đặt ấy. Tạm gọi đó là không gian đóng.
Điều thứ tư:
Như vậy, làm sao để vẽ một bức tranh mà không sử dụng background. Có lẽ có nhiều cách , nhưng cách tôi chọn là làm không gian đẩy ra phía trước, chứ không phải giả ra phía sau. Khi đó mặt phẳng của bức tranh sẽ là mặt phẳng gần như xa nhất, đôi khi ta có cảm tưởng tranh như đứng lơ lửng trong không gian. Chính vì vậy, trong những tác phẩm của tôi, người xem sẽ cảm thấy không gian ở phía trước, nó như đang bao trùm toàn bộ bức tranh, tràn ra ngoài và tiến tới vị trí của người xem, chứ không phải ở phía sau. Không gian tràn ra ngòai khỏi phạm vi của bức tranh, thật khó mà xác dịnh chính xác phạm vi của bức tranh , từ đâu tới đâu. Điều đó có nghĩa là tôi đang sử dụng không gian thực, chứ không phải gỉả không gian. Không gian tôi đang sử dụng là lớp không gian trước mặt mà chúng ta đang hít thở ,trong suốt và đang nhìn thấy, đang hiện hữu trước mặt chúng ta. Tội đã biến nó thành một phần của tác phẩm, và lớp không khí không nhìn thấy kia gần như đang cụ thể và hiện hữu ở phía trước bức tranh.
Điều thứ năm:
Chính vì sử dụng không gian ở phía trước, cho nên tính liên kết của tranh rất là cao. Cộng với việc sử dụng không gian thực cho nên tranh có thể liên kết với tất cả các đối tượng đứng trước nó. Một người xem đứng trước bức tranh ,vẫn có thể là một phần của bức tranh, cả không gian chung quanh bức tranh vẫn có thể tham dự vào bức tranh. Chính vì vậy ta luôn cảm thấy tranh gắn kết mật thiết với môi trường chung quanh chứ không tách rakhỏi nó.
Tôi gọi đó là không gian mở.
Hơn thế nữa, chính vì lấy không gian thực làm không gian của tác phẩm, cho nên ánh sáng trong mội trường đã trở thành ánh sáng của bức tranh. Tranh của tôi, sử dụng ánh sáng thực, không giả ánh sáng, vì vậy nó được xem như một chất liệu thât sự, sờ, nắm được như màu sắc, cũng tạo đậm nhạt, kiểu cách bề mặt như màu sắc.
Điều thứ sáu:
Chính những yếu tố đó, đã tạo cho tranh của tôi một cuộc sống thực, không giả tạo. Nó như người bạn sống chung bên cạnh con người. Gần như người xem hít thở lớp không khí mà tranh tạo ra, sống trong lớp không khí ấy chứ không phải đứng nhìn một cách thụ động đơn thuần và bị áp dặt như những bức tranh khác.
Từng vị trí của người xem đứng trước bức tranh là những góc độ khác nhau, cảm xúc khác nhau. Nguời xem hít thở lớp không khí đó và suy nghĩ về chính những vấn dề của mình, chứ không phải hình tượng tôi áp đặt. Hình tượng tôi đưa ra trên tranh chỉ là cái cớ, dữ liệu , kích thích trí tưởng tượng của người xem xúc cảm về những gì mà cuộc sống họ đã trãi qua.. Có thể họ suy nghĩ về một lọ hoa trong nhà cách đây đã 2 năm . Có thể họ suy nghĩ về một rừng hoa mà họ đã thấy trên film ngày hôm qua, hoặc cũng có thể một cây ăn trái ở nhà bên cạnh, chứ không phải họ thấy duy nhất lọ hoa của tôi vẽ là đẹp. Người xem sẽ nhìn thấy chính cuộc sống thực của mình thông qua lớp không gian và hình tượng mà tôi đưa..
Điều thứ bảy:
Như vậy , tranh của tôi sự cẩn thiết phải đứng trước nó, để cảm thụ lớp không gian thật sự. Bởi vì, tranh mang nặng tính liên kết ngay bên trong đối tượng và với cả bên ngoài, cho nên chúng ta có thể tạo ra tác phẩm đa không gian, đa mặt phẳng,và đa hình tượng.
Chính vì vậy , nhiều người vẫn xếp tranh của tôi vào loại Visual Art.
Painting-Installation
10/9/2007
Nguyễn Sĩ Tuấn
Tiếp >>
Cảm hứng



